‘Hollywood Ending’: cuốn tiểu sử về Harvey Weinstein từ khi còn nằm nôi đến lúc vào tù

26 7 / 2022
Đăng bởi: lovebird21c

‘Hollywood Ending’: cuốn tiểu sử về Harvey Weinstein từ khi còn nằm nôi đến lúc vào tù

nguồn: New York Times,

biên dịch: Takya Đỗ,

‘Hollywood Ending,’ a Cradle-to-Jail Biography of Harvey Weinstein

 

‘Hollywood Ending’: cuốn tiểu sử về Harvey Weinstein từ khi còn nằm nôi đến lúc vào tù

 

 


 

Ken Auletta looks for Weinstein’s Rosebud in this dispiriting account of the former movie mogul’s life.

 

Ken Auletta đi tìm Rosebud (“Nụ hồng”) của Weinstein trong câu chuyện vô vọng về cuộc đời của cựu ông trùm điện ảnh này.

 

 

 

As you might expect, there aren’t a whole lot of laughs in “Hollywood Ending,” Ken Auletta’s cradle-to-jail new biography of Harvey Weinstein, the movie mogul convicted of third-degree rape and another sex felony in New York and awaiting trial on further charges in California.

 

Như ta có thể đoán trước, không có nhiều tình tiết vui cười trong “Hollywood Ending” (tạm dịch: “Hollywood cáo chung”), cuốn tiểu sử mà Ken Auletta viết về Harvey Weinstein từ khi còn nằm nôi đến lúc vào tù, ông trùm điện ảnh này bị kết tội hiếp dâm cấp độ ba và một trọng tội tình dục khác ở New York và đang chờ ngày ra tòa về những tội danh bổ sung ở California.

 

 

 

When Auletta calls Weinstein’s relationship with his brother Bob “Shakespeare-worthy,” he is placing the story squarely in the tragedy column of the ledger.

 

Khi Auletta gọi mối quan hệ giữa Weinstein và người anh trai Bob của ông ta là "tiêu biểu cho Shakespeare,” là ông đang trực tiếp đặt câu chuyện này vào cột bi kịch trong cuốn danh mục kịch của Shakespeare.

 

 

 

But then the Broadway star Nathan Lane makes a brief appearance, like Puck cartwheeling onto the set of “Coriolanus.”

 

Nhưng rồi Nathan Lane ngôi sao của Broadway xuất hiện trong phút chốc, giống như Puck [nhân vật trong vở kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespeare] bỗng từ đâu nhào vào phân cảnh vở kịch “Coriolanus.”

 

 

 

The year was 2000, and Weinstein’s cultural capital was perhaps at its peak.

 

Đó là năm 2000, và vốn văn hóa của Weinstein có lẽ đã lên tột đỉnh.

 

 

 

He was still running Miramax, the prestigious studio that he and Bob had started in 1979, albeit now under Disney’s incongruous but lucrative oversight.

 

Ông ta vẫn đang điều hành Miramax, hãng phim lừng danh mà ông ta và Bob đã khởi lập năm 1979, mặc dù bây giờ nó được đặt dưới sự giám sát không thích hợp nhưng mang lại lợi nhuận cao của Disney.

 

 

 

He’d recently founded Talk magazine with the editor Tina Brown, then New York’s nimblest puppeteer of high and low culture.

 

Gần đây ông ta đã sáng lập tạp chí Talk với nhà biên tập Tina Brown, là người giật dây những con rối văn hóa cao và văn hóa thấp lanh lẹ nhất của New York thời bấy giờ.

 

 

 

He was hobnobbing with politicians, co-chairing a lavish birthday party and fund-raiser for then-Senate candidate Hillary Clinton at Roseland Ballroom.

 

Ông ta đã chơi thân với các chính trị gia, đồng chủ trì một bữa tiệc sinh nhật cực kỳ xa xỉ và gây quỹ tại Roseland Ballroom cho ứng cử viên Thượng viện hồi ấy là bà Hillary Clinton.

 

 

 

And he didn’t like some of the jokes that Lane, anyone’s dream M.C., had written for the occasion.

 

Và ông ta chẳng ưng một số lời tấu hài mà Lane, M.C. trong mơ của bất kỳ ai, đã viết cho sự kiện này.

 

 

 

“I’ll ruin your career,” Weinstein threatened, in Auletta’s retelling, as he “bellied” the elfin actor into a corner.

 

“Tôi sẽ làm cho anh tan tành sự nghiệp,” Weinstein đe dọa, theo lời kể lại của Auletta, khi ông ta “dồn” nam diễn viên nhỏ bé tinh nghịch này vào một góc.

 

 

 

“You can’t hurt me,” Lane retorted. “I don’t have a film career.”

 

“Ông chẳng thể làm hại tôi được,” Lane vặn lại. "Tôi đâu có sự nghiệp điện ảnh."

 

 

 

Onstage, Lane tauntingly said:

 

Trên sân khấu, Lane nói với giọng châm chọc:

“I’m going to do all the jokes Harvey Weinstein wanted me to cut.”

 

“Tôi sẽ thực hiện tất cả những trò đùa mà Harvey Weinstein muốn tôi cắt khỏi chương trình.”

 

 

 

This wasn’t the last time that theater, of a sort, would win the day over the producer’s preferred medium.

 

Đây chẳng phải là lần cuối cùng kịch nghệ sân khấu, thuộc hạng thấp kém hơn, chiến thắng phương tiện ưa thích của nhà sản xuất.

 

 

 

Auletta attended every day of Weinstein’s trial in 2020, narrating the experience here in four chapters.

 

Auletta đã ngày ngày tham dự phiên tòa xét xử Weinstein hồi năm 2020, ông kể lại trải nghiệm ấy trong bốn chương sách.

 

 

 

“Trials are not movies, shot under controlled conditions and subject to revision in the editing room,” he writes.

 

“Những phiên xét xử không phải là phim ảnh được quay trong những điều kiện có kiểm soát và được chỉnh sửa trong phòng biên tập,” ông viết.

 

 

 

“They are live productions, dependent on the chemistry of their participants, and not a little bit of luck.”

 

“Chúng là sản phẩm tại chỗ, phụ thuộc vào sự tương tác tâm lý và cảm xúc giữa những người tham gia, và chẳng có gì là may rủi cả.”

 

 

 

Books, of which Weinstein is demonstrably fond — his media mini-empire included a publishing imprint — can be like movies.

 

Những cuốn sách mà Weinstein yêu thích ra mặt – cái đế chế truyền thông nhỏ của ông ta bao gồm cả một thương hiệu xuất bản – có thể giống như những cuốn phim.

 

 

 

Auletta effectively, if maybe a little too elegiacally, frames this one in the lengthy shadow of “Citizen Kane.”

 

Auletta đã thể hiện thành công điều này núp dưới cái bóng lê thê của bộ phim “Citizen Kane” (“Công dân Kane”), dù có thể hơi bi đát quá.

 

 

 

Auletta is, of course, Jerry Thompson, the reporter looking for his antihero’s Rosebud: the mysterious missing object or influence that will explain his personality.

 

Dĩ nhiên, Auletta là nhân vật Jerry Thompson, chàng phóng viên đang tìm kiếm ý nghĩa của từ Rosebud mà nhân vật phản diện của anh ta thốt ra lúc lâm chung: cái vật thể hoặc thứ uy lực huyền bí vô tăm tích đó sẽ giúp giải thích tính cách của nhân vật này.

 

 

 

But he is also Citizen Ken, magnanimous and avuncular when he encourages his boss at The New Yorker, David Remnick, to publish the young journalist Ronan Farrow’s investigation of Weinstein’s misdeeds.

 

Nhưng ông cũng là Công dân Ken, hào hiệp và khoan dung khi khích lệ sếp của ông tại The New Yorker là David Remnick xuất bản cuốn sách về cuộc điều tra những hành vi sai trái của Weinstein do nhà báo trẻ tuổi Ronan Farrow thực hiện.

 

 

 

The New York Times’s Jodi Kantor and Megan Twohey broke the story five days before Farrow’s piece was published.

 

Jodi Kantor và Megan Twohey của tờ New York Times đã tranh tiên xuất bản câu chuyện về Weinstein năm ngày trước khi tác phẩm của Farrow được xuất bản.

 

 

 

The well-connected Auletta draws on the work of those journalists and his own interviews with major players, including many surely fascinating hours with the beleaguered brother Bob.

 

Là người quen biết nhiều nhân vật quan trọng, Auletta sử dụng nguồn tin từ các tác phẩm của những nhà báo đó và những cuộc phỏng vấn của bản thân ông với những người có liên quan chính, bao gồm nhiều giờ phỏng vấn chắc chắn là rất lôi cuốn với Bob người anh trai bị công kích tứ phía của Weinstein.

 

 

 

As for Harvey, he emails some terse responses to questions, and his representatives haggle over possible interview conditions before ghosting his biographer — but “Hollywood Ending” also mines an extensive profile Auletta wrote of him 20 years ago, and its outtakes.

 

Về phần Harvey, ông ta gửi qua email một số câu trả lời cụt lủn cho những câu hỏi, và các đại diện của ông ta thường mặc cả những điều kiện phỏng vấn khả dĩ trước khi chấp bút viết tiểu sử cho ông ta – nhưng “Hollywood Ending” cũng khai thác một tiểu sử rất bao quát mà Auletta đã viết về ông ta 20 năm trước và những phần bị cắt bỏ của nó.

 

 

 

(“Kane” is famous for its breakfast montage.

 

(Bộ phim “Kane” nổi tiếng với phân cảnh dựng phim bữa sáng.

 

 

 

Weinstein’s montage would show him mainlining junk food: peanut M&Ms, French fries when interviewing a defense lawyer — ketchup “creating what looked like bloodstains” — Mentos at the trial and, more recently, contraband Milk Duds.)

 

Phân cảnh của Weinstein sẽ cho thấy ông ta ngốn ngấu những đồ ăn không tốt cho sức khỏe: kẹo lạc M&Ms, khoai tây chiên khi phỏng vấn một luật sư bào chữa – sốt cà chua “tạo ra cái trông giống như vết máu” – kẹo bạc hà Mentos tại phiên tòa, và gần đây là kẹo bọc sô-cô-la Milk Duds lậu thuế.)

 

 

 

Weinstein’s reputation for sexual trespass had started early, when he was a concert promoter in Buffalo.

 

Tai tiếng của Weinstein về lạm dụng tình dục đã bắt đầu từ sớm, khi ông ta còn là nhà tổ chức cho một buổi hòa nhạc ở Buffalo.

 

 

 

As he aged, his influence waned — the whole movie industry waned — just as he was seeking younger prey, from a cohort that “increasingly spent their free time on social networks like Facebook,” Auletta reminds, “rather than going to the movies.”

 

Về già, ảnh hưởng của ông ta suy giảm – toàn bộ ngành điện ảnh suy yếu – khi ấy ông ta đang tìm kiếm con mồi trẻ hơn, từ một nhóm có chung đặc điểm “ngày càng dành nhiều thời gian rảnh rỗi trên các mạng xã hội như Facebook,” Auletta nhắc nhở, “thay vì đi xem phim.”

 

 

 

After the producer, then in his 60s, lunged from his office couch at Ambra Battilana Gutierrez, a 22-year-old Miss Italy finalist, in 2015 — “when he reached for her breasts like he was at an all-you-can-eat buffet,” as Auletta puts it — she did what many previous women who had been in her position, scared of Weinstein’s towering power, had been loath to do:

 

Sau khi nhà sản xuất phim đó, hồi ấy ở độ tuổi 60, bất thình lình từ chiếc ghế dài trong văn phòng của ông ta chồm lên tấn công Ambra Battilana Gutierrez, cô gái 22 tuổi được vào vòng chung kết Hoa hậu Ý năm 2015 – “khi ông ta với tay thộp lấy ngực cô như thể ông ta đang dùng bữa buffet muốn-gì-ăn-nấy,” theo lời Auletta – cô đã làm điều mà nhiều phụ nữ trước đây từng ở vị trí của cô, sợ hãi trước quyền lực ngất trời của Weinstein, đã không muốn làm:

 

 

 

She called the police.

 

Cô gọi cảnh sát.

 

 

 

A publicist’s attempt to discredit Gutierrez was met with indignant cries that she was being “slut-shamed.”

 

Nỗ lực của một số nhà báo nhằm làm Gutierrez mang tai mang tiếng đã vấp phải những tiếng kêu phẫn nộ rằng cô đang bị “vu khống là gái hư”.

 

 

 

The fourth wave of feminism had arrived with a big splash, pulling Weinstein and his ilk into the undertow.

 

Làn sóng nữ quyền thứ tư đã đến với một đợt sóng xô bờ rất mạnh, cuốn Weinstein và những người cùng một giuộc với ông ta ra biển.

 

 

 

And yet the male foreman of the jury that convicted Weinstein, Auletta points out, cited the testimony and behavior of male witnesses, not female victims — “suggesting,” Auletta writes, “that ‘believe women’ may face a steep uphill climb.’”

 

Tuy nhiên, Auletta chỉ ra rằng ông chủ tịch bồi thẩm đoàn, người kết án Weinstein, đã trích dẫn lời khai và hành vi của những nhân chứng nam, không phải các nạn nhân nữ – “ông ta gợi ý rằng,” như Auletta viết, “khẩu hiệu 'hãy tin tưởng phụ nữ' có thể phải đối mặt với một tiến trình cực kỳ khó khăn."

 

 

 

He proposes instead “listen to women”; but one key woman’s voice is cast as soul-crushingly loud.

 

Thay vào đó, ông này đề xuất khẩu hiệu “hãy lắng nghe phụ nữ”; nhưng chỉ một giọng nói của người phụ nữ quan trọng cất lên đã vang dội đến kinh hồn bạt vía.

 

 

 

Searching for Rosebud, Auletta alights, for lack of better explanations, on the Weinstein brothers’ flame-haired and apparently flame-tempered mother, Miriam (for whom their company was named, along with their milder father, Max, a diamond cutter who died of a heart attack at 52).

 

Trong lúc tìm kiếm Rosebud, vì không có cách giải thích tốt hơn, Auletta tìm đến Miriam, người mẹ có mái tóc màu lửa và dường như tính cũng nóng như lửa của anh em Weinstein, (công ty của anh em nhà này mang tên bà, cùng với tên người cha ôn hòa hơn của họ là Max, một người thợ chế tác kim cương đã qua đời vì một cơn đau tim ở tuổi 52).

 

 

 

A childhood friend told Auletta that Harvey referred to Miriam as “Momma Portnoy,” after the shrill character in Philip Roth’s “Portnoy’s Complaint.”

 

Một người bạn thời thơ ấu nói với Auletta rằng Harvey gọi Miriam là “Mẹ Portnoy,” theo tên nhân vật hay léo nhéo trong tiểu thuyết “Portnoy’s Complaint” (“Lời than phiền của Portnoy”) của Philip Roth.

 

 

 

Bob, who somehow avoided growing into a “beast,” as Harvey is repeatedly described here, allows for the possibility of Miriam’s frustration at her life’s limitations.

 

Bob, người mà bằng cách nào đó đã tránh được việc lớn lên trở thành một “quái vật” như Harvey được miêu tả nhiều lần ở cuốn sách này, dự tính trước khả năng Miriam sẽ thất vọng về những hạn chế trong cuộc sống của bà ta.

 

 

 

“She could have been Sheryl Sandberg or one of these C.E.O.s of a company.

 

“Bà đáng ra phải là Sheryl Sandberg hoặc một trong những CEO của một công ty. Bà có trí thông minh kiểu đó,”ông ta nói với Auletta.

She had that kind of smarts,” he told Auletta.

 

 

Instead, she proudly brought rugelach to her sons’ headquarters, and had an epitaph worthy of Dorothy Parker:

 

Thay vào đó, bà tự hào mang bánh quy rugelach đến trụ sở của các con trai mình và có một dòng khắc trên mộ chí xứng tầm với nữ văn sĩ Dorothy Parker:

 

 

 

“I don’t like the atmosphere or the crowd.”

 

"Tôi không thích bầu không khí đó hoặc đám đông đó."

 

 

 

As there was a roving “fifth Beatle,” so there were a series of Miramax executives nicknamed the “third brother” — loyalists who helped to enable bad behavior — and, chillingly, a sort of “conveyor system to funnel women” to Weinstein’s hotel suites.

 

Vì đã có một thành viên “Beatle thứ năm” không cố định, thì cũng có một loạt giám đốc của Miramax được đặt biệt danh là “anh ba” – những kẻ trung thành đã tạo điều kiện cho hành vi xấu – và, thật rợn tóc gáy, một kiểu “hệ thống băng chuyền đưa phụ nữ” đến dãy phòng suit của Weinstein trong khách sạn.

 

 

 

If you’re not interested in the NC-17 and often disgusting particulars of what happened in those suites, nor in the headsmacking convolutions of nondisclosure agreements, perhaps you’d prefer one of the disgraced protagonist’s recommendations from the more tasteful era he worshiped, Elia Kazan’s autobiography, “A Life,” or a book Weinstein was often seen carrying during trial preparation:

 

Nếu bạn không quan tâm đến loại phim NC-17 [cấm trẻ em từ 17 tuổi trở xuống] và thường ghê tởm các chi tiết về những gì đã xảy ra trong những dãy phòng khách sạn đó, cũng không quan tâm đến những điều khoản như đánh đố của các thỏa thuận bảo mật, có lẽ bạn sẽ thích một trong những tác phẩm mà nhân vật chính ô danh này tiến cử từ cái thời trang nhã hơn mà ông ta tôn thờ, cuốn tự truyện “A Life” (“Một cuộc đời”) của Elia Kazan, hay cuốn sách mà người ta thường thấy Weinstein mang theo trong quá trình chuẩn bị xét xử:

 

 

 

“The Brothers Mankiewicz,” by Sydney Ladensohn Stern.

 

“The Brothers Mankiewicz” (“Anh em nhà Mankiewicz”) của Sydney Ladensohn Stern.

 

 

 

Herman Mankiewicz is credited with the screenplay for “Citizen Kane”; his brother, Joe, wrote “All About Eve.”

 

Herman Mankiewicz được ghi nhận là người viết kịch bản cho “Citizen Kane”; anh trai của ông này là Joe đã viết “All About Eve” (“Mọi thứ về Eve”).

 

 

 

Recalling those great movies, and even some from Miramax’s glory days in the ’90s, feels dispiriting, as the pictures, to paraphrase “Sunset Boulevard,” continue to get smaller.

 

Việc gợi lại những bộ phim hay tuyệt đó, và thậm chí một số bộ phim từ thời hoàng kim của Miramax vào những năm 90, gây cảm giác chán nản, vì những bộ phim đó, nói theo kiểu “Sunset Boulevard”, ngày càng ít dần.

 

 

 

Going along for the ride of Weinstein’s slow rise and fall, even with the able Auletta at one’s side, can feel even more dispiriting, like getting on one of those creaky roller coasters at a faded municipal playland.

 

Đi theo chặng đường thăng trầm chậm chạp của Weinstein, thậm chí là với Auletta tài năng ở bên cạnh, có thể gây cảm giác chán nản hơn, giống như lên một trong những chiếc tàu lượn siêu tốc kêu cót két tại một khu vui chơi đang tàn lụi của thành phố.

 

 

 

At that time, he had heard of Weinstein’s sex crimes, an open secret for years, but was unable to get victims on the record, and so focused on his subject’s bullying and prodigious appetites.

 

Hồi đó ông đã nghe nói về những tội phạm tình dục của Weinstein, một bí mật mà ai cũng biết nhiều năm, song ông không thể khiến nạn nhân công khai lên tiếng, và vì vậy ông tập trung vào hành vi đe dọa và sự ham muốn phi thường của đối tượng.


HOLLYWOOD ENDING
Harvey Weinstein and the Culture of Silence
By Ken Auletta
Illustrated. 466 pages. Penguin Press. $30.

Chia sẻ: